Bạn đang xem: Trang chủ » Giới thiệu » Từ điển Thái Bình » "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 391-743, C)

Từ điển Thái Bình

"TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập (mục 391-743, C)

Ngày đăng: 31/07/2013 In trang

"Ông Nguyễn Quang Ân là nhà sử học, công tác tại Viện Sử học Việt Nam. Từ năm 1998 ông là Giám đốc Trung tâm Unesco Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông Ân là tác giả và đồng chủ biên tác phẩm Từ điển Thái Bình và nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn sử học khác. Ông đã góp ý kiến và nhiệt tình gửi tới BBT một số tác phẩm đã xuất bản về quê hương Thái Bình để giúp BBT có tài liệu tham khảo, tuyên truyền giới thiệu tới bà con đồng hương xa nhà.
Xin quý bạn đọc lưu ý mấy điểm như sau:
1/ Về nội dung và thứ tự các mục từ hoàn toàn theo bản in ở trong nước.
2/ Về hình thức có sự thay đổi như: thứ tự số trang, phông chữ và tên mục từ không dùng chữ in hoa như bản in.

3/ Do điều kiện kỹ thuật trình bầy trên trang web không thể đưa chữ Hán Nôm và cũng không thể đưa hết các ảnh minh họa ở nhiều mục từ như sách đã in.
Chúng tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Quang Ân đã có tâm huyết và gửi tặng cho dhthaibinh.de bộ sách "Từ điển Thái bình" này và mong rằng bạn đọc của dhthaibinh.de sẽ hiểu hơn nữa về quê hương Thái Bình chúng ta".

Cuốn "TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH" toàn tập gồm 4990 mục từ, 1300 trang in khổ 19x27cm do Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo biên soạn; Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2010.

Chúng tôi xin trân trọng gửi tới bạn đọc toàn tập của cuốn từ điển qúy giá này.

***


Tiếp theo...

391. Cá chuối nấu ám

Người dân Thái Thụy từ xưa có món cá chuối nấu ám rất riêng.

- Nguyên liệu: Cá chuối (còn gọi là cá quả); chuối xanh, mẻ, nghệ, mắm tôm, muối, ớt, rau răm, tía tô, lá lốt, hành, tai chua.

- Cách làm: Chọn cá còn sống, to, múp đầu là cá ngon. Đem đánh sạch vẩy, bóc mang, bỏ ruột, rửa sạch. Dùng dao lọc thịt, thái thành từng miếng nhỏ, ướp với mẻ, mắm tôm, bột nghệ, ớt, hành khô băm nhỏ. Phần đầu và xương đem trần nát rồi băm lại, cho thêm chút muối, ớt, hành, răm vào, sau đó viên lại thành viên bằng hạt gấc (Có thể rưới thêm vào ít mỡ nước cho nhuyễn dẻo). Chuối xanh đem gọt vỏ, cắt thành khúc dài độ 2,5 cm rồi bổ làm tư, ngâm nước khoảng 15 phút cho hết nhựa.

Phi thơm hành mỡ, cho thịt và viên cá vào rán.  Phải rán khéo để viên cá không bị vỡ, thịt cá không bị nát, rồi múc ra bát. Đun nước sôi, cho cá và viên cá cùng vài lát tai chua thái nhỏ vào trước, sau đó cho chuối xanh vào sau. Khi  chuối chín mềm là được. Trước khi bắc xuống, cho rau thơm đã thái nhỏ vào. Khi ăn, nếu chưa đủ độ chua có thể vắt thêm chanh .

Cá chuối nấu ám rất bổ, có màu vàng sánh của nghệ lẫn màu xanh của chuối và rau thơm, lại có vị vừa chua vừa chát, vừa cay rất dễ ăn.

392. Cá diếc nấu rau ngải

Món ăn, cũng là bài thuốc trị bệnh ho khan lâu ngày, bà con ta vẫn quen dùng từ xa xưa rất hiệu nghiệm. Cách làm giống như canh cá rô nấu với rau cải nhưng không cần gia vị. Người già thích ăn món này vì bổ phổi lại nhẹ người. Phụ nữ ăn canh lá ngải thường xuyên kinh nguyệt sẽ đều đặn, da dẻ hồng hào, tươi tắn.

393. Cá nướng Thái Xuyên

Đặc sản cá nướng thường có trong các mâm cơm ngày tết, ngày giỗ, cơm đãi khách hoặc lúc nông nhàn của người dân x. Thái Xuyên h. Thái Thụy. Nguyên liệu: Cá (cá trắm, cá mè, cá chép, cá trôi, cá vược, cá chim, cá đé ... ). Gia vị: mắm, muối, nghệ tươi, ớt, tiêu bắc. Cách làm: Chọn cá còn sống, con to, mình dầy, đầu nhỏ, nướng sẽ ngon. Sau khi mổ bỏ ruột, rửa sạch cắt bỏ phần đầu (nếu cá to có thể cắt thành khúc), tẩm ướp cá với nước mắm, muối ớt, hạt tiêu, nghệ giã nhuyễn (xát gia vị cả vào phần trong bụng cá). Chờ khoảng 20 phút cho cá ngấm gia vị, dùng 2 thanh tre tươi và lạt kẹp dọc theo thân cá, cốt để khi chín, cá vẫn giữ  nguyên hình dạng. Than để nướng cá là than đốt từ củi xoan gọi là than hoa.  Khi nướng, đốt than hoa trong chậu, sau khi than hồng, hết khói, xếp cá ghếch xung quanh, (nếu nhiều cá có thể đào thành rãnh, rải đều than hoa ở dưới, dàn những kẹp cá trên mặt rãnh), dùng quạt mo cau hay quạt nan quạt nhẹ và đều tay, giữ than ở nhiệt vừa phải để khi nướng, cá không bị nứt hoặc chảy nước xuống. Trở cá luôn tay cho cá chín đều hai mặt. Sau khoảng 4 đến 5 giờ, cá chín vàng đều, da cá khô, có mùi thơm là được.

Cá nướng để nguội, chấm với nước mắm Diêm Điền có hạt tiêu bắc, vài lát gừng và ớt tươi, vắt thêm chanh. Sản phẩm có vị ngọt đậm, chua, cay, thơm nức. Ăn với cơm hoặc làm đồ nhắm rượu đều ngon. Trời lạnh, có thể để  món này lâu hàng tuần.

394. Cá rô nấu canh rau cải

Dân gian Thái Bình có câu "Canh cải nấu với cá rô, Gừng thơm một lát, cho cô giữ chồng", đủ biết cá rô nấu canh cải ngon đến thế nào. Cá rô đem đánh sạch vẩy, bỏ ruột, rửa sạch sẽ, sau luộc qua. Gỡ thịt cá ướp nước mắm, muối vừa miệng, rim lên để riêng. Giã phần xương còn lại, lọc lấy nước thịt, tra thêm gia vị để nấu canh. Chọn rau cải non mướt, cay hăng (có nơi gọi là cải canh), rửa sạch từng tàu rồi mới thái nhỏ để không mất mùi vị. Đợi khi canh sôi thì bỏ rau vào đun to lửa rau mới xanh và thơm. Canh sôi, thêm chút lá gừng tươi hoặc mấy lát củ gừng để khử mùi tanh, đổ thịt cá đã rim vào sau cùng rồi bắc ngay xuống. Nồi canh có mùi thơm lạ. Trứng cá lấm tấm vàng như hạt kê nổi trên nền rau xanh lẫn những lát cá trắng ngà càng tăng độ hấp dẫn của bát canh. Rau thơm mát, cá ngậy ngọt làm vừa lòng người ăn khó tính nhất. Đây là món ăn thường ngày, vừa mát, vừa bổ.

395. Cá thần cửa biển Trà Lý

Sách Thái Bình phong vật chí chép: "Đền Thiên Hậu ở cửa Trà Lý do người Thanh cất dựng. Tương truyền ở cửa bể có cá thần, ban ngày nhảy vượt lên khỏi mặt nước thì (trông) thấy mầu đen. Ban đêm nó bơi thì  mầu đỏ hồng, trông xa tựa như cá cắt bằng giấy; nó bơi đến đâu thì có tiếng ầm ầm vang động đến đó; vì vậy dân chài thường đem giấy vàng ra biển đốt để cầu niệm cho khỏi bị đắm thuyền". Chuyện cá thần có lẽ là do đơm đặt, nhưng loài cá ban ngày trông đen đen, ban đêm đỏ hồng, lúc bơi thường gây tiếng ầm ầm trên sóng có thể cần được nghiên cứu.

396. Cá trê nấu canh dưa cải

Món ăn phổ biến, làm từ cá trê. Dân gian có câu "Chồng chê thì mặc chồng chê, Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ", ý nói dưa nấu cá trê rất hợp và ngon. Cá trê đồng, chọn con to, đầu nhỏ, da vàng là cá béo. Làm sạch nhớt bằng cách ngâm cá khảng 10 phút với dấm chua hoặc nước dưa chua. Rửa sạch, mổ bỏ ruột và "hoa khế" trong đầu, dùng dao khía dầy cả hai mặt thân cá rồi cắt khúc, rán qua, tra mắm muối vừa ăn. Thái cà chua sốt với cá. Khi cá đã chín, cho dưa cải (cải cay) muối thật chua vào đun kỹ. Đổ thêm nước vừa ăn, đun sôi. Tra hành tươi, ớt tươi vào sau cùng. Món này vừa có vị ngọt của cá, của cà  chua, vừa có vị chua dịu và mùi thơm của dưa nấu. Ăn nóng với cơm rất ngon.

397. Cả

Chùa th. An Lạc, x. Mê Linh, h. Đông Hưng. Căn cứ vào văn bia do TS. Đỗ Uông biên soạn khắc năm Sùng Khang thứ 9 (1575), bia Hưng Trị thứ 2 (1591), Mạc Hồng Ninh năm thứ 2 (1592)… thì chùa được xây vào thời Trần. Đến năm Sùng Khang thứ 9 đã to đẹp; năm 1588 đã tạc 16 pho tượng Phật; năm 1591 dựng gác chuông chùa uy nghi, lộng lẫy; năm 1592 dựng trúc đài (văn bia chép là cây đèn sắt); năm 1595 hoàn thiện hành lang tả, hữu; năm 1622, đúc thêm 10 tượng Phật bằng đồng. Năm 1680, đời Lê Chính Hòa, chùa được đại tu… Sang đầu triều Nguyễn, chùa đã được tu bổ vào các năm 1840, 1857… Trong KCCP, chùa bị xuống cấp nghiêm trọng. Chùa hiện tại mang kiến trúc Nguyễn pha cả kiến trúc cuối tk. XX đầu tk. XXI. Tam quan chùa kiêm vị trí gác chuông cao 12 m, xây 3 tầng. Khu thờ Phật gồm 2 tòa, 8 gian, bố cục kiểu chữ "đinh". Chùa ông Hộ 5 gian. Điện Phật 3 gian. Riêng vì cốn xà sát đốc hậu chạm rồng chầu mặt nguyệt rất tinh tế, mang đậm phong cách thời Lê Chính Hòa. Có thể di ảnh vàng son của Đại Bi tự thời Mạc, Lê còn sót trong kiến trúc cũng chỉ còn thanh xà này. Bảo vật quý nhất là các tấm bia khắc vào các năm Sùng Khang, Hưng Trị, Mạc Hồng Ninh, Quang Hưng, Vĩnh Tộ, Chính Hòa...

398. Cả

Đền x. Thụy Hà, h. Thái Thụy. Tương truyền được xây dựng từ khi hình thành cộng đồng dân cư làng xã. Trùng tu vào đời vua Tự Đức triều Nguyễn (1848 - 1883). Kiến trúc chữ "Đinh", 2 tòa gồm 8 gian. Tòa bái đường 8 gian, bộ mái làm kiểu "chéo đao tàu mái". Đao đắp "rồng chầu phượng mớm" có "ngạc long ngậm đại bờ". Hệ thống vì kèo làm theo kiểu ván mê và chồng đấu hoa sen. Các mảng cốn chạm tứ linh. Hệ thống y môn cửa võng chạm bong chênh các đề tài "lưỡng long chầu nguyệt" sơn son thếp vàng. Đền  thờ:

- 3 danh thần thời Thục An Dương Vương là Lân Linh Đại vương, Thần Hoàng Đại vương và Tuyên Quang Đại vương.

- 1 vị quan thời Nguyễn là Lê Tham Giao.

- 12 vị tổ của 12 dòng họ có công khai lập làng xã.

- Ngọc Dung phu nhân (phối thờ, từ miếu đem về).

Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1999).

399. Cả

Đồn án ngữ cửa Kem, x. Minh Tân, h. Kiến X­ương. Đồn Cả vừa hàm ý đồn chính của nghĩa quân, lại hàm ý đồn do anh Cả Phan Bá Vành là Phan Cầm chỉ huy. Đất khu đồn Cả khá rộng, có chiến lũy tre gai, trong dựng doanh quân, toàn là nhà tranh tre, có thể chứa đư­ợc cả nghìn quân. Đồn Trà Lũ thất thủ (đối ngạn sông Hồng, thuộc h. Giao Thủy), trấn thủ Bắc Thành Tr­ương Văn Minh cho triệt hạ hết rừng tre, san phẳng nhà cửa, thành bãi đất trắng.

Năm 1989, UBND tỉnh đã quy hoạch 1 vạn mét vuông trong phạm vi trung tâm đồn cũ thành khu vực bất khả xâm phạm, lại vẽ bản đồ. Có nhà bia tưởng niệm Phan Bá Vành cao 6 m, tam cấp dài 5,1m, rộng 4,8m. Chính giữa đặt bia đá rộng 1,2 m, cao 2,2 m, ghi tiểu sử Phan Bá Vành và các chiến công của cuộc khởi nghĩa nông dân d­ưới triều Minh Mệnh (1820-1840). Được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước.

400. Các chi bộ ĐDCSĐ ở Kiến Xương

Tháng 7-1929, chi bộ ghép Đa - Cao (tg. Đa Cốc, tg. Cao Mại) được thành lập, gồm 5 đảng viên của Lịch Bài, 3 đảng viên của Lai Vi, 3 đảng viên của Kênh Son, 6 đảng viên của Dương Liễu trại, Dương Liễu làng, Nguyệt Giám, do đồng chí Lê Kính làm bí thư. Sau đó, 5 đảng viên của Lịch Bài được tách ra thành lập chi bộ riêng, do đồng chí Phạm Kha làm bí thư. Sang đầu 1930, phong trào cách mạng lên cao, cơ sở Đảng phát triển, Kênh Son cũng tách thành chi bộ riêng. Tháng 9-1929, Nam Huân cùng các làng Thịnh Quang, Dưỡng Thông lập thành một chi bộ gồm 10 đảng viên. Những địa phương không đủ số đảng viên để thành lập chi bộ thì sinh hoạt ghép, như Luật Trung có một đảng viên, sinh hoạt với chi bộ cơ quan Tỉnh ủy; Thư Điền có 3 đảng viên, sinh hoạt với chi bộ Đông Cao (Tiền Hải)

401. Các chi bộ ĐDCSĐ Thần Duyên

Chi bộ ĐDCSĐ Thần - Duyên (Thần Khê-Duyên Hà) thành lập tháng 7-1929 tại th. Nhuệ (nay thuộc x. Chí Hòa, h. Hưng Hà), gồm 6 đảng viên: Lương Duyên Hồi (bí thư), Bùi Văn Mộng, Đỗ Gia Tuấn, Nguyễn Văn Rậng, Nguyễn Đình Liêm, Nguyễn Đức Sành. Đến 1-4-1930, trên địa bàn Tiên Hưng - Duyên Hà có tới 54 đảng viên, do đó chi bộ Thần Duyên chia thành 6 chi bộ trực thuộc Liên chi Thần Duyên: Chi bộ Nhuệ - Sàng - Vị, gồm 8 đảng viên, do Đỗ Gia Tuấn làm bí thư. Chi bộ Vân Đài - Chùa, gồm 6 đảng viên, do Bùi Văn Mộng làm bí thư. Chi bộ An Lai - Hậu Trung, gồm 10 đảng viên, do Nguyễn Văn Rậng làm bí thư. Chi bộ Đồng Lạc - Thanh Cách - Vũ Đông - Phan Thôn, gồm 11 đảng viên, do Nguyễn Văn Ri làm bí thư. Chi bộ Quan Xá, Ba Thôn, Phú Khê, gồm 16 đảng viên do Lương Duyên Hồi làm bí thư. Chi bộ Nguyên Lâm, gồm 3 đảng viên do Nguyễn Văn Sành làm bí thư. Từ ngày có chi bộ Đảng địa phương, các cuộc đấu tranh của nông dân Tiên Hưng - Duyên Hà càng phát triển mạnh, mà đỉnh cao là cuộc biểu tình với 1.000 nông dân  của 18 làng kéo lên tỉnh lỵ đấu tranh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1930, lần đầu tiên được tổ chức ở nước ta.

402. Các chi bộ ĐDCSĐ ở Thư Trì - Vũ Tiên

Tháng 7-1929, đồng chí Tống Văn Phổ (tức Hỏa), Bí thư Tỉnh ủy, đã về trực tiếp chỉ đạo việc thành lập chi bộ đảng Thư - Vũ (Thư Trì -Vũ Tiên). Lúc này, Thanh niên cách mạng trong vùng đã có trên 100 hội viên, nhưng việc lựa chọn phải rất thận trọng để đảm bảo nguyên tắc tổ chức của Đảng và chất lượng đảng viên. Các đồng chí Hoàng Kỳ, Hồ Sĩ Kết, và Đội Uy được chỉ định là những sáng lập viên chuẩn bị thành lập chi bộ đảng. Trung tuần tháng 7-1929, tại xóm Cầu Đá, l. Hội Khê (nay thuộc x. Vũ Hội), cuộc họp thành lập chi bộ đảng đầu tiên ở Thư Trì - Vũ Tiên được tổ chức. Đây là 1 trong 6 chi bộ đầu tiên của Đảng bộ Thái Bình. Đồng chí Tống Văn Phổ thay mặt cấp trên tuyên bố giải tán VNCMTN, kết nạp đồng chí Hoàng Kỳ và 2 đồng chí nữa vào ĐDCSĐ, thành lập một chi bộ, cử đồng chí Hoàng Kỳ làm Bí thư.

Cán bộ, đảng viên tỏa về các cơ sở trong hai huyện Thư Trì, Vũ Tiên để phát triển đảng và thành lập các tổ chức quần chúng, treo cờ, rải truyền đơn trong toàn huyện, giới thiệu sự ra đời của Đảng nhân ngày 1-8-1929, ngày toàn thế giới chống chiến tranh đế quốc. Đến đầu 1930, trên địa bàn hai huyện Thư - Vũ đã có 8 chi bộ đảng: Chi bộ Hội Khê 5 đảng viên. Chi bộ Thuận An 13 đảng viên. Chi bộ Bình An 5 đảng viên. Chi bộ Đại Đồng  5 đảng viên, Chi bộ Lịch Bài 5 đảng viên. Vân Môn, một tổ 2 đảng viên, Cổ Việt một tổ 2 đảng viên và Kiều Thần một tổ 2 đảng viên. Số lượng đảng viên lên tới 39, số hội viên còn lại hoạt động trong các tổ chức quần chúng.

403. Các công trình quân sự

kết hợp kinh tế với quốc phòng

Tháng 6-1984, được sự chỉ đạo của Quân khu III, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã triển khai thực hiện kế hoạch - quy hoạch kết hợp  kinh tế với quốc phòng, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân địa phưong. Tỉnh đã đầu tư hàng trăm triệu đồng, hàng trăm ngàn ngày công làm mới 50km đường giao thông, sửa chữa nâng cấp 5 cầu, trong đó có đường mới từ Đồng Tiến (Quỳnh Phụ đi Thái Thụy) dài 5 km, hình thành thêm trục đường cơ động chiến lược của tỉnh, đồng thời phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Triển khai trồng thêm 57.545 khóm tre, 486.417 khóm mây, 420 ha cây sú vét chắn sóng và bảo vệ bờ biển, hộ đê mùa mưa bão. Xây dựng lắp ghép, bổ sung 6 4 công sự chiến đấu. H. Tiền Hải xây dựng cơ bản xong công sự chiến đấu điểm tựa Minh Châu (Đông Minh), Cồn Vành, Cồn Đen, các đồn trạm Biên phòng. Hoàn thành xây dựng mới 5 km đường dây điện từ huyện đi Trà Lý, phục vụ kịp thời chỉ huy, chỉ đạo chiến đấu trong mọi tình huống. Triển khai thêm 3 trận địa trực chiến với: Nam Hưng, Đông Hải (Tiền Hải), Thái Đô (Thái Thụy) tăng cường khả năng chiến đấu của tỉnh.

404. Các Đông 閣 東

Xã cũ vốn là th. Tử Các Đông được lập thành xã riêng biệt theo Quyết định của Thống sứ Bắc Kỳ (1902). Đầu tk. XX thuộc tg Bích Du, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Bích Sơn, h. Thái Ninh. Nay thuộc x. Thái Thượng, h. Thái Thụy. Dân số 373 người (1927). Hương ước l. Các Đông (1942): 11 tr. viết tay.

405. Các Đông

Đền còn gọi đền Hét, th. Các Đông, x. Thái Thượng, h. Thái Thụy, thờ Phạm Ngũ Lão. Xây từ đời Trần trên đất đồn doanh cũ của Phạm Ngũ Lão khi ông đem quân về trấn cửa Đại Toàn (Diêm Điền). Đền hiện tại tái dựng vào đầu niên hiệu Tự Đức (1883), gồm tòa đại bái 5 gian, tòa trung tế 5 gian, điện thờ 3 gian, bố cục kiểu "Tiền nhất hậu đinh". Các gian trung tâm tòa đại bái và trung tế lắp cửa võng sơn son thếp vàng, chạm tứ quí tứ linh. Đồ tế khí còn rất nhiều, trong đó có tòa khám gian và cỗ sập thờ là quí nhất. Cỗ khám mặt tiền rộng 2 m, 3 mặt lắp 2 tầng cửa võng chạm tứ linh, cánh cửa trổ thủng long, phượng bệ chân quì, dạ cá chạm rồng. Trong khám đặt tượng Điện tiền tướng quân Phạm Ngũ Lão. Cỗ sập thờ tạo dáng chân quì dạ cá, thành soi chỉ kép, thân chạm rồng, phượng, tùng, cúc mai, dạ cá chạm rồng... có gần 50 họa tiết trang trí rất đẹp. Hội đền vào ngày 8 tháng Giêng âm lịch, có trò vui "vật cầu" đặc sắc. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1993).

406. Các Đông

Đình x. Thái Thượng, h. Thái Thụy, xây thời Lê, xưa gồm 2 tòa, 10 gian, tòa đại bái 7 gian, xây kiểu đao tầu chéo góc. Năm Khải Định thứ 2 (1918), bị xuống cấp, phải bớt đi 2 gian hồi, bởi thế đình hiện tại chỉ còn 8 gian, tòa đại bái 5 gian, hậu cung 3 gian, tường xây hồi khánh, bẩy chạm long phụng và tứ quí cách điệu. Là một trong 3 ngôi đình thời Lê duy nhất còn lại ở t. Thái Bình. Đình thờ vua Tiền Lý Nam Đế. Cạnh đình có miếu nhỏ (1 gian) thờ hoàng hậu Đỗ Thị Khương.

Đại thần Tôn Thất Thuyết đi đánh dẹp tàn quân Thái Bình Thiên quốc, nhà Thanh, khi qua đất p. Thái Bình có về đình tế bái yết Lý Nam Đế. Cuối tk. XIX, Đề đốc Tạ Hiện tế cờ họp tướng hội quân đã đem cả súng thần công về đây tế vua. Khẩu thần công ấy sau bị Pháp đưa về đồn Diêm Điền, nay còn trưng bày tại Bảo tàng Thái Bình. Được xếp hạng DTLS cấp Quốc gia (1990).

407. Các Già

Cầu trên đường tỉnh 221A km 1+120, vượt sông Cổ Rồng, địa phận x. Tây Giang, h. Tiền Hải. Buổi đầu là cầu tre do các già làng Phụng Công tự làm, năm 1930 người Pháp xây cầu tạm, năm 1972 xây mới bằng bê tông cốt thép, dài 5 nhịp 40 m; rộng 5 m; tải trọng dưới 10 tấn.

408. Các hội quần chúng của Tỉnh bộ Việt Nam cách mạng thanh niên Thái Bình

Ra đời  từ đầu năm 1928, bao gồm Nông đoàn, Thanh niên đoàn, Học sinh đoàn phát triển chủ yếu ở tx. Thái Bình, các huyện Kiến Xương, Vũ Tiên. Để thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, Tỉnh bộ chủ trương để các Chi hội tổ chức  ra các phường hội như Hội Tương tế Vũ Lăng, Giáp Dân đinh Nam Huân (Kiến Xương). Nông đoàn Dương Thôn (Hưng Nhân), Giáp Nam, Hội Hiếu hỷ, Hội Hát chèo, Giáp Mới, Phe

Tế lễ riêng, Hội Lợp nhà ở các làng thuộc tg. Vị Sĩ (Duyên Hà), Phú Khê (Tiên Hưng).

409. Cách mạng tháng tám 1945 ở Thái Bình

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), một số đảng viên vượt ngục Hỏa Lò (Hà Nội) trở về, tìm cách liên lạc với các đồng chí còn lại, hoặc ra tù trước. Đồng chí Trần Cung đứng ra triệu tập cuộc họp tại l. Động Trung (Kiến X­ương), gồm đại biểu các phủ huyện, bàn biện pháp mở rộng Mặt trận Việt Minh và các tổ chức, phát động quần chúng đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu quốc. Cuối 3 -1945, Ban chấn chỉnh phong trào được thành lập để điều hành công tác cách mạng chung toàn tỉnh, đến 4-1945, Ban chấn chỉnh phong trào họp tại l. Động Trung (Kiến X­ương), đổi tên thành Ban Tỉnh ủy, do đồng chí Nguyễn Đức Tâm làm Bí thư­. Sau cuộc họp, công việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đ­ược tiến hành rất khẩn tr­ương. Cuối 6-1945, Tỉnh ủy họp tại l. An Vệ (Quỳnh Côi), chủ tru­ơng:

- Ra sức phát triển cơ sở cứu quốc, thành lập cơ quan lãnh đạo Việt Minh các cấp.

- Thành lập đội tự vệ ở các làng, rèn vũ khí, chuẩn bị bản đồ phục vụ hoạt động vũ trang. Lập đội trừ gian ở các huyện, nhằm trừ khử những tên phản động gian ác đã qua cảnh cáo mà không hối cải.

- Lãnh đạo quần chúng chống nộp thóc, nộp thuế, nộp day, lạc, vừng cho Nhật. Phá kho thóc Nhật chia cho dân.

- Lập An toàn khu (ATK) của tỉnh tại Ph­ương Quả (Quỳnh Côi).

Từ sau hội nghị của Tỉnh ủy, thanh thế Việt Minh lên mạnh, ở nhiều nơi đã công khai trư­ơng cờ đỏ sao vàng, diễn tập quân sự, diễn thuyết phát động  quần chúng đấu tranh chống Nhật, cứu đói. Phong trào ở Quỳnh Côi phát triển rất mạnh, Nhật không dám đem quân về đàn áp, tổng lý ở các làng xã hầu hết tan rã, Tri huyện Châu bỏ huyện đ­ường chạy về tỉnh, lính gác huyện đóng chặt cổng không dám ra ngoài. Việc giữ gìn trật tự trị an gần như do Việt Minh điều hành. ở Kiến Xương, Tri phủ Vũ Quý Mão hứa sẽ ủng hộ Việt Minh và thực tế ông ta đã giữ đúng lời hứa. Các nơi khác, Tri phủ, Tri huyện, nha lại chỉ làm việc chiếu lệ. Quan chức ở tỉnh cũng hoang mang, Tỉnh trưởng Nguyễn Hữu Trí tìm cách liên lạc với Việt Minh. Nhiều viên chức trong bộ máy chính quyền địch đã ngả về phía cách mạng, hoặc cảm tình với cách mạng, hoặc trung lập; những kẻ vốn làm tay sai đắc lực cho Pháp, Nhật cũng không còn dám hung hăng như trước. Mấy viên chỉ huy bảo an binh trở thành cảm tình của Việt Minh, và qua họ một số binh lính đã ngả hẳn về phía cách mạng.

Tối 16-8-1945, lực lượng cách mạng p. Thái Ninh vũ trang tuyên truyền vào ttr. Châu Giang, một tiểu đội tự vệ tiến thẳng vào phủ đường tước vũ khí, lính cơ được ta thuyết phục đã đem 4 khẩu súng cùng đạn dược trao cho cách mạng. Chiều 18-8-1945, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp tại Thượng Tầm, Thái Ninh (nay thuộc h. Đông Hưng) quyết định khởi nghĩa trong toàn tỉnh. Kế hoạch khởi nghĩa là chiếm các phủ, huyện trước rồi tập trung lực lượng các địa phương  kéo lên thị xã giành chính quyền. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra đầu tiên ở p. Thái Ninh vào chiều 18-8-1945, tiếp theo là thị xã, Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Tiên Hưng, Duyên Hà vào 19-8-1945; Thụy Anh 20-8-1945; Thư Trì 23-8-1945. Như vậy, chỉ trong 6 ngày (18-8 đến 23-8-1945), chính quyền từ tỉnh huyện, đến các làng xã đã về tay nhân dân. Ngày 25-8-1945, cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại tx. Thái Bình với sự tham gia của khoảng 10 ngàn người để chào mừng ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh do ông Ngô Duy Cảo làm Chủ tịch và Tỉnh bộ Việt Minh do ông Ngô Duy Đông làm Bí thư. Xt: Khởi nghĩa giành chính quyền ở các huyện (cũ).

410. Cai Bộc (1886-1941)

Tên thật là Đặng Huy Tá, người l. Trình Phố (nay thuộc x. An Ninh, h. Tiền Hải), có sức khỏe, võ nghệ hơn người. Theo Đề Kiều chống Pháp, đánh giặc rất dũng cảm, một mình có thể kháng cự với hàng chục lính giặc mà vẫn vượt được vòng vây, được thăng chức Cai đội. Sau làm tướng cận vệ cho Nguyễn Quang Bích, được tin cẩn giao việc liên lạc các vùng Thanh Nghệ để truyền mật lệnh. Sau khi Nguyễn Quang Bích mất, con trưởng là Ngô Quang Đoan lên chiến khu hoạt động, sang Trung Quốc mua vũ khí, đều trông cậy vào sự trợ giúp đắc lực của ông. Sau đó, Cai Bộc còn gả em gái cho  Ngô Quang Đoan. Bà đảm đang mọi việc cho chồng xuất dương sang Tầu, sang Nhật tìm đường cứu nước. Thực dân Pháp bắt được Cai Bộc đầy ra Côn Đảo cùng thủ khoa Nguyễn Quang Hoan. Ông đóng bè vượt Côn Đảo cùng 3 tù nhân khác. Giữa biển sóng lớn bè tan, chỉ còn ông cùng Cử Hoan bơi được vào đất liền. Ông cải tên đổi họ trốn lên vùng Cẩm Khê (Phú Thọ) dạy học và hoạt động chống Pháp.

411. Cải cách dân chủ trong Kháng chiến chống Pháp

Sau 1945, t. Thái Bình đã chia lại công điền cho nam, nữ từ 18 tuổi trở lên và chia một phần ruộng bán công, bán tư cho nông dân; đồng thời lại  quy định giảm tô 25% so với trước 1945. Bước đầu, bình quân chiếm hữu ruộng đất ở nông thôn đã thay đổi so với trước cách mạng: cố nông 94 m 2 , bần nông 450 m 2 , trung nông 1.488 m 2 , phú nông 3.600 m 2 , địa chủ nhỏ 11.100m 2 , địa chủ bậc trung 18.340 m 2 , địa chủ lớn 72.000 m 2 . Trong kháng chiến, khi vùng du kích được mở rộng, Tỉnh ủy đã chỉ đạo việc tịch thu ruộng đất của việt gian, phản động; lấy ruộng vắng chủ, ruộng bán công, bán tư để tạm cấp, tạm giao cho nông dân. Ruộng công điền cũng được chia lại công bằng, dân chủ hơn. Thế lực chính trị và  kinh tế của giai cấp địa chủ tiếp tục bị suy giảm. Nhiều cố nông trở thành bần nông, bần nông lên trung nông; một số địa chủ phá sản xuống phú nông hoặc trung nông. Tình hình chiếm hữu ruộng đất ở nông thôn tiếp tục biến đổi có lợi cho nông dân: cố nông 192 m 2 , bần nông 456 m 2 ,  trung nông 912 m 2 , phú nông 2.520 m 2 , địa chủ 5.400 m 2 . Tuy vậy, ruộng đất của địa chủ vẫn chiếm tới 13% tổng số ruộng đất trong tỉnh, trong khi số địa chủ chỉ chiếm  2,8% dân số.

412. Cải cách giáo dục lần thứ nhất

Từ giữa năm 1950 đến cuối 1951 Bộ Giáo dục tiến hành cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất theo phương châm Dân tộc, Khoa học, Đại chúng, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình cũng đã có nghị quyết "Tiếp tục mở các trường hương học cho nhân dân ở những vùng tự do và các lớp dự bị bình dân ở khắp các xã, củng cố bộ máy Bình dân học vụ từ tỉnh đến xã". ở huyện có Trưởng và Phó học khu, ở xã có Trưởng giáo là những cán bộ phụ trách giáo dục; bậc tiểu học gọi là phổ thông cấp một , trung học là phổ thông cấp hai phổ thông cấp ba . Giáo dục cấp một phổ thông ở Thái Bình được tổ chức hầu khắp các xã từ vỡ lòng đến lớp 4. Năm 1952 mới có hơn 900 lớp với 27.000 học sinh vỡ lòng, năm sau đã lên tới 72.072 học sinh với 3.885 lớp và 2.791 giáo viên. Các trường cấp 1 đều chuyển sang dân lập, giáo viên chưa qua trường chính qui đều được dự lớp bồi dưỡng chuyên môn và chính trị. Tỉnh còn tập trung giáo viên giỏi biên soạn sách giáo khoa cấp một và lớp 5, lớp 6 của cấp 2 theo phương châm Dân tộc, Khoa học, Đại chúng với nội dung "thiết thực phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu và đời sống nhân dân". Sau cải cách giáo dục lần thứ nhất, năm 1952 số lớp học tăng trên 30%, học sinh tăng 82% so với năm 1951; năm 1953 số lớp, số học sinh cấp một đều tăng hơn 3 lần, số giáo viên tăng gần gấp đôi. Đến năm 1954 phổ thông cấp một đã có hơn 1000 lớp với 800 giáo viên và hơn 1 vạn học sinh.

413. Cải cách giáo dục lần thứ hai

Bắt đầu từ năm 1956, chủ yếu giải quyết những vấn đề trong bậc phổ thông làm cho bậc học này thành một thể thống nhất theo hình mẫu của "Qui chế trường phổ thông 10 năm". Theo Qui chế này lớp vỡ lòng sẽ bãi bỏ mà học sinh bắt đầu ngay lớp 1 của cấp một, học 4 năm (từ lớp 1 đến lớp 4), cấp hai học 3 năm (các lớp 5, 6, 7) và cấp ba học 3 năm (lớp 8, 9, 10). Cuối cấp một và cấp 2 có thi chuyển cấp, cuối lớp 10 thi tốt nghiệp phổ thông. Trước cải cách giáo dục lần thứ hai, Thái Bình chưa có trường cấp ba. Năm học 1957 - 1958, Thái Bình bắt đầu mở trường cấp ba phổ thông tại Thị xã lấy tên là trường Phổ thông cấp ba Thái Bình, tuyển học sinh trong cả tỉnh với 8 lớp 400 học sinh. Như vậy từ năm học 1957 - 1958 Thái bình đã phát triển đầy đủ cả 3 cấp của hệ thống Phổ thông 10 năm.

Cuộc cải cách giáo dục lần này cũng nhằm đấu tranh xoá bỏ những yếu tố lạc hậu của tư tưởng đế quốc, phong kiến, xác lập hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin làm cho nhà trường thực sự là pháo đài của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Mùa hè năm 1958 các giáo viên đều được tập trung chỉnh huấn chính trị,  mùa hè năm 1959 học Nghị quyết 15 và 16 của Trung ương, nghiên cứu về "Đạo đức cách mạng" và "Chống chủ nghĩa cá nhân" v.v…

414. Cải cách giáo dục lần thứ ba

Nhằm "thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành 3 cuộc cách mạng và tăng cường công tác quốc phòng". Cuộc CCGD này mang tính toàn diện và lâu dài. Tỉnh uỷ Thái Bình đã bàn chuyên đề và ra Nghị quyết về đổi mới giáo dục, như bỏ hệ giáo dục 10 năm thay bằng hệ 12 năm, chia thành 2 bậc PTCS, PTTH và 3 cấp: Tiểu học, PTCS, PTTH, sau mỗi bậc có thi tốt nghiệp. Sau đó,  lại có chủ trương sáp nhập cấp 1 với cấp 2 thành trường PTCS; mười năm sau lại tách trường tiểu học và THCS riêng với lý do là THCS và PTTH sẽ là 2 cấp của Trung học phổ thông. Đến năm 1995 Thái Bình hoàn thành tách riêng tiểu học và THCS. Từ năm học 1981 - 1982 bắt đầu sử dụng sách giáo khoa CCGD từ lớp 1. Đến hè 1986 hoàn thành vòng 1 và từ năm học 1986 - 1987 bắt đầu thay sách lớp 6.

Học sinh, sinh viên các trường Sư phạm được miễn học phí, xoá bỏ trường chuyên lớp chọn ở bậc tiểu học và THCS, chống những biểu hiện tiêu cực trong nhà trường, có tính chất "thương mại hoá" giáo dục như thi cử thiếu trung thực, lạm dụng cơ chế thị trường mà dạy thêm học thêm tràn lan, bày ra nhiều khoản bắt học sinh đóng góp một cách tuỳ tiện…

415. Cải cách ruộng đất

Thái Bình tiến hành CCRĐ vào đợt 5 và triển khai đồng loạt trên địa bàn toàn tỉnh, bắt đầu từ ngày 25-12-1955 và kết thúc vào ngày 6-6-1956. Đoàn I CCRĐ ở 2 huyện Kiến Xương, Tiền Hải. Đoàn II CCRĐ ở 2 huyện Thụy Anh, Thái Ninh. Đoàn VIII CCRĐ ở 3 huyện Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân. Đoàn IX CCRĐ ở 3 huyện Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Đoàn X CCRĐ ở 2 huyện Vũ Tiên, Thư Trì. Quá trình phát động quần chúng đấu tranh, tiến hành CCRĐ, toàn tỉnh đã quy 10.255 hộ là địa chủ; đã tịch thu, trưng thu, trưng mua của địa chủ 78.666 mẫu ruộng đất (29.135 ha), 7.456 con trâu bò, 150.000 tấn lương thực. Toàn bộ số ruộng đất, trâu bò và lương thực kể trên đã chia cho 170.000 nông dân lao động trong toàn tỉnh. Bình quân ruộng đất cho một nhân khẩu ở các thành phần khác nhau như sau: dân nghèo 2 sào, cố nông 2 sào 8 thước, bần nông 2 sào 12 thước, trung nông 3 sào 1 thước, phú nông 4 sào, địa chủ 1 sào 8 thước. ước mơ ngàn đời "Người cày có ruộng" của nông dân đã  được thực hiện. Nhiệm vụ phản phong của cách mạng dân tộc dân chủ căn bản hoàn thành.

Do không nắm vững và vận dụng đúng đường lối của Đảng, CCRĐ đã mắc nhiều sai lầm có tính nguyên tắc về chỉnh đốn tổ chức, về đánh địch và về đường lối giai cấp ở nông thôn. Tại Thái Bình, việc sửa chữa sai lầm được bắt đầu từ 25-7-1956 đến tháng 10-1957, đã sửa thành phần và đền bù tài sản cho những hộ bị quy nhầm là địa chủ, phú nông;  trả tự do cho những người bị bắt oan đang bị giam giữ; bỏ án quản chế cho người bị oan (giải quản); khôi phục danh dự và quyền lợi cho những người bị nghi oan là phản động; đưa những cán bộ, đảng viên có đủ điều kiện vào các ban chi ủy, UBHC, ban chấp hành nông hội xã… Sau khi hoàn thành công tác sửa sai, đã xác định những ruộng đát, nhà cửa, trâu bò, nông cụ tịch thu, trưng thu, trưng mua đúng của địa chủ và đã chia cho nông dân là: 29.415 mẫu 9 sào 7 thước ruộng đất; 2.576 con trâu bò; 6.190 chiếc cày bừa; 4.573 nhà ở.

Xt: Cải cách dân chủ trong KCCP (411); Giảm tô (1384) ; Sửa sai trong CCRĐ (3516-3522) .

416. Cam

Cầu trên tỉnh lộ 222 km 14 + 591, vượt một nhánh của sông Kiên Giang tại địa phận ttr Thanh Nê, h. Kiến Xương. Cầu cũ xây năm 1930-1931. Năm 1968 mở rộng lòng sông Kiên Giang, bỏ cầu cũ, xây cầu mới bằng bê tông cốt thép; dài 65,5 m; rộng 4,5 m; tải trọng H10 - XB60.

417. Cam (Citrus sp).

Cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới, họ Cam quýt (Rutaceae). Cây nhỡ, thân nhẵn, không gai hay có ít gai. Lá hình trái xoan, hơi dài, gân lá nhỏ, cuống lá hơi có cánh. Hoa mọc thành chùm 6-8 hoa ở nách lá nhỏ. Hoa màu trắng. Quả hình cầu, thịt chia thành múi, có nhiều tép, vị chua ngọt. Hạt có lá mầm màu trắng. Thường ra hoa tháng 1-2, quả chín vào tháng 10-12. Thành phần hoá học của quả cam tươi: 87,5% nước, 0,9% prôtit, 8,4% gluxit, 1,3% axit hữu cơ, 1,6% xenlulozơ, 34mg% canxi, 23mg% sắt, 0,4mg% caroten, 40mg% vitamin C.

ở Thái Bình, cam trồng phân tán tại hộ gia đình. Trước đây, cam trồng tập trung ở Bách Thuận, Thuận Vi. Nhiều giống cam địa phương cho năng suất thấp, thoái hóa nhanh nên bị phá bỏ. Những loại giống cam mới không phù hợp với điều kiện, khí hậu, đất đai của tỉnh nên không phát triển được.

418. Cam Đoài 閣 東

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Hoành Sơn, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Đầu tk. XIX là x. Cam Đường chia ra 2 xã Cam Đoài và Cam Đông. Nay đều thuộc x. Thụy Liên, h. Thái Thụy. Dân số 950 người (1927).

419. Cam Đông 閣 東

Xã cũ đầu tk. XX thuộc tg Hoành Sơn, h. Thụy Anh, t. Thái Bình. Đầu tk. XIX là x. Cam Đường chia ra 2 xã Cam Đoài và Cam Đông. Nay đều thuộc x. Thụy Liên, h. Thái Thụy. Dân số 514 người (1927). Hương ước x. Cam Đông (1942): 16 tr. viết tay.

420. Cam Đường 甘 棠

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Hoành Đường, h. Thụy Anh. p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Đầu tk. XX, tg Hoành Đường đổi thành tg Hoành Sơn; x. Cam Đường chia ra 2 xã Cam Đông, Cam Đoài.

421. Cam Lai 閣 東

Xã cũ cuối tk. XIX là ấp thuộc tg Tân Phong, h. Tiền Hải, p. Kiến Xương, t. Nam Định. Đầu tk. XX là xã thuộc tg Tân Phong, h. Tiền Hải, t. Thái Bình. Trong KCCP thuộc x. Phùng Hưng. Nay là th. Cam Lai thuộc x. Đông Cơ, h. Tiền Hải. Dân số 829  người (1927). Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 8 tr., 10 tr. chữ Hán; 5 đạo sắc phong.

422. Cam Mỹ 甘 美

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Tiên Bố, h. Quỳnh Côi, p. Thái Bình, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Nam Định, từ 1890 thuộc t. Thái Bình). Nay là th. Cam Mỹ thuộc x. An ấp h. Quỳnh Phụ. Dân số 580 người (1927). Địa bạ x, Cam Mỹ: 14 tr., khai tháng 3 năm Thành Thái 12 (1900), gồm công tư điền thổ 510 mẫu; trong đó công điền 15 mẫu; tư điền 428 mẫu. Thần sắc x. Cam Mỹ : 27 tr., phong cấp vào các năm Dương Hòa (1 đạo), Phúc Thái (2 đạo), Cảnh Trị (2 đạo), Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (2 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo). Phong cho Thành hoàng Hiển ứng... Đại Vương. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 8 tr.; thần: Hùng, Rũng, Đô Công. Tục lệ x. Cam Mỹ : 14tr., gồm 31 lệ của th. Xuân Lai 春 來 , lập ngày 16 tháng 9 năm Tự Đức 18 (1865).

423. Càn Hải Tống hậu

Thần thờ ở x. Hải Linh, tg Lễ Thần, h. Thanh Quan (nay thuộc x. Thái Đô, h. Thái Thụy). Sự tích : Cha của Tống Hậu phu nhân là Nguyễn Gia, người châu Vạn Chân, h. Trực Định, p. Kiến Xương, làm quan dư­ới triều Tống đến chức Tam công. Mẹ Trần Thị Đạt nằm mơ thấy trăng rơi vào miệng rồi có thai, đến ngày 12 tháng năm Giáp Tuất sinh ra Hậu, nhân nhớ mộng mà đặt tên là Nguyệt Nư­ơng. Tống triều có Triệu Công Điền làm Đô hộ Nam Giao thấy Nguyệt Nương xinh đẹp tâu với Tống đế (Nghệ Tông) đ­ưa vào cung cho làm Đệ tam cung phi. Về sau nhân việc hồi quốc cư­ tang cha hoàn tất, Phi chu du thiên hạ lập ra 42 cung sở. Bấy giờ, nư­ớc Nguyên đem quân đánh Tống. Tống đại bại. Phi bèn mang công chúa và tì nữ xuống thuyền chạy về cố quán Nam Giao, ra khỏi thuyền gặp cuồng phong dạt vào bãi biển x. H­ương Cần (cửa Cờn) thuộc p. Diễn Châu. Gặp một vị thiền s­ư ân cần mời chào, như­ng Phi từ chối ra đi, sau bị bọn thổ quan bức hại. Đó là ngày 8 tháng 9. Thiền sư ân hận không cứu giúp đ­ược ng­ười, nên lao mình xuống biển mà chết.

Lại nói, sau khi mẹ con Tống Phi và tỳ nữ qua đời thì thư­ờng anh linh biến hóa vô cùng, thuyền bè th­ương gia qua lại đều cầu đảo hư­ơng đăng nghi ngút không dừng. 42 hành cung mà lúc sinh thời Phi đã đi qua thảy đều tu sửa miếu vũ thờ cúng tôn nghiêm. Đến thời vua Trần Anh Tông đi đánh Chiêm Thành, ngủ lại cửa Cờn, ban đêm Phi hiện lên báo mộng: "Bọn thiếp là Triệu Tống Phi tử, sóng nước đánh trôi dạt tới đây, Th­ượng đế sắc cho làm thần biển đã lâu, nay xin theo bệ hạ". Vua chợt tỉnh giấc cho hành lễ cầu đảo. Trời yên sóng lặng, ba quân đại thắng khải hoàn. Vua phong cho mỹ hiệu, sửa đền. Lại đến thời Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ nhất (1470), vua đi chinh phạt Chiêm Thành qua đền cửa Cờn mật đảo đề thơ. Sáng hôm sau, thuyền quân tiến thẳng tới thành đô Chiêm Thành, khai thác c­ương thổ xứ này đặt thành xứ Quảng Nam gồm 3 phủ. Vương s­ư khải hoàn tôn phong: Quốc mẫu Vua Bà. Cho dân các xứ ven biển tùy nghi mà lập đền thờ. Thần Đại Càn ở  Thái Bình có trên 30 địa phư­ơng thờ. Chỉ riêng h. Tiền Hải đã có 29 làng xã thờ.

Thái Bình tỉnh thần tích (AE.a5/40,219), (Q4 0 -18/VIII,85).

424. Cáng

Phương tiện vận chuyển được dùng khá phổ biến ở Thái Bình thời trước. Thường dùng võng và đòn khiêng (từ 3-4 m) bằng tre hoặc gỗ.

Loại cáng võng dệt làm bằng sợi vải thô, to bện thành võng, thường nhuộm xanh. Hai đầu võng có trục gỗ dài khoảng 80cm tạo cho mặt cáng tương đối phẳng. Trục gỗ lại có các lỗ để xỏ vào các nan rồi tết nan lại, đầu ngoài cùng của nan bện thành quai để xỏ vào đòn khiêng. Trên cáng có mái che hình mui thuyền, đan bằng tre, quét sơn ta màu đen cho bền.  Những người học hành đỗ đạt, người có chức sắc trong làng khi ra đình, đi chơi dùng loại cáng này.

Cáng võng điều bện bằng đay xe, nhuộm đỏ, phía trên cáng phủ vải đẹp. Người giàu sang khá giả, vợ quan, mẹ quan khi đi chơi, hội hè, ra đình dùng cáng có phu khiêng. Võng điều cũng dùng trong các đám cưới để cáng cô dâu, chú rể, hoặc cáng người cầm hương (nam giới có tuổi, học hành đỗ đạt, con cái đề huề) được  mời đi làm phúc cho các đám cưới. Về sau võng đay, võng bạt dùng cáng người ốm đi bệnh viện, hoặc dùng chuyển đồ vật nặng cồng kềnh, cũng có khi để chuyển súc vật.

425. Canh cá khoai

Đặc sản của những xã ven biển Thái Bình, có từ tháng chạp đến hết tháng 3 âm lịch. Đặc biệt, vào những ngày có sương mù, cá rất sẵn.

- Nguyên liệu: Cá khoai, cà chua, tai chua, răm, hành, thì là, ngổ hương.

- Cách làm:  Chọn những con cá múp đầu, màu trắng bóng, phớt hồng, mang đỏ, bụng còn se rắn là cá tươi và béo. Đem rửa sạch, cắt bỏ riêng phẩn đầu, mổ moi hết ruột, cạo hết màng trắng trong bụng cá, cắt thành 2 hoặc 3 khúc. Ướp cá với nước mắm, muối, gừng thơm, tiêu bắc, hành củ băm nhỏ, ớt tươi, một chút thì là và rau răm thái nhỏ. Đầu cá đem băm lẫn với vài con tôm vàng cùng chút muối, răm, hành, thì là và ớt, sau đó nặn thành viên. Khi cá ngấm gia vị, phi hành mỡ sốt cà chua thành bột, gia thêm một chút nước cùng vài lát quả tai chua khô vào, đun tiếp khi nước chua đậm, cho phần viên đầu cá và tôm vàng vào trước, rồi nhẹ nhàng trút cá vào sau. Canh sôi 1 đến 2 phút là được. Tránh đun to lửa và sôi lâu quá, cá sẽ nát và không ngọt Trước khi bắc nồi xuống, tra thêm hành hoa, thì là, rau răm, ngổ hương thái nhỏ. Cá đạt tiêu chuẩn phải còn nguyên miếng, nước ngọt mát, chua dịu.

Cá khoai được chế biến thành món duy nhất là

nấu canh chua. Xương cá khoai mềm như không, thịt mềm mướt, trắng muốt, ăn canh kèm với rau thơm, rau diếp thái nhỏ, cảm giác rất mát. Canh cá khoai là thức ăn giải nhiệt, bổ dưỡng.

426. Canh cá Quỳnh Côi

Đặc sản của h. Quỳnh Côi (nay thuộc h. Quỳnh Phụ). Tr­ước kia, muốn làm canh cá phải kén cá rô đồng sống ở vùng đất sét màu đỏ. Khi bắt đầu có những trận m­ưa rào đầu muà (tháng 3 âm lịch), là cá rô sinh sôi. Đến tháng 10 âm lịch, lúa trổ bông, cá ăn hoa lúa, mầm cỏ nên béo hơn. Ngày nay cá rô sống tự nhiên ở đồng ruộng ít đi. Muốn làm canh cá có thể thay bằng cá quả, cá chép, cá trắm đen (cá đực cho nhiều thịt). Bánh đa gạo sợi trắng, mỏng mịn, dai, cũng là sản phẩm của Quỳnh Phụ. Bánh được chần qua nước sôi.

Các loại rau dùng làm canh là rau dút, rau ngót, cải cúc, cải canh, rau cần (vào mùa đông-xuân), chọn loại non, nhặt lá úa, rửa sạch sẽ, rồi đem chần, cho vào bát to, rải chả và thịt lên mặt bánh, rắc thì là, hành tươi, mùi, ớt t­ươi lên trên, chan nư­ớc dùng, thêm một chút nư­ớc nghệ hoặc một chút n­ước cari đã phi hành mỡ để lấy mầu và mùi thơm cho canh. Vắt chanh vào bát. Ăn nóng.

427. Canh củ

Canh củ là món ăn hàng ngày của người Diêm Điền (h. Thái Thụy). Món canh này thường có vào mùa tôm biển, cũng là mùa thu hoạch củ từ. Người Diêm Điền sống xa quê, nỗi nhớ quê thường gắn liền với nỗi nhớ bát canh củ quê nhà.

- Nguyên liệu: Củ từ mỡ (có nơi còn gọi là củ đầu), tôm, rau cần, răm, thì là, mắm, muối, mì chính.

- Cách làm: Chọn miếmg củ non, canh sẽ mềm và ngọt; tôm phải tươi (nấu bằng tôm sắt canh sẽ ngọt hơn), rau cần non, thân trắng muốt, ít rễ, cắt thành khúc dài bằng 2 đốt ngón tay; rau thơm thái nhỏ. Tôm bóc sạch vỏ, bỏ đầu. Nõn tôm đem băm nhỏ, ướp chút mắm và tiêu bắc cho thơm và không bị ải. Giã đầu tôm chắt lấy nước để nấu canh. Gọt sạch vỏ miếng củ từ, ngâm nước chừng 10 phút (cho vài hạt muối vào nước), sau đó dùng muôi cạo dần miếng củ thành một thứ bột nhão. Tra mắm, muối vào nước nấu canh và cho lên bếp để đun. Khi nước sôi, thả bột củ vào, dùng đũa khuấy nhẹ, đều tay cho bột không bị vón cục và bị khê, đun khi nào hết bọt trên mặt nồi canh (Canh củ đun lâu, thịt trâu đun chóng) mới cho tôm băm vào đun tiếp chừng 2 đến 3 phút, cho tiếp rau cần vào, khi nào canh sôi lại là được. Trước khi bắc xuống, cho rau thơm và tiêu bắc vào, khuấy đều. Canh củ nấu tôm vừa bổ, vừa mát lại rất dễ ăn. Canh có vị ngọt của tôm và của củ, có mùi thơm của rau cần. Bát canh củ trông cũng rất đẹp mắt, màu trắng của củ lẫn màu hồng của tôm, xen màu xanh của rau thơm, nhìn vào, ai cũng muốn ăn.

428. Canh cua

Món ăn phổ biến của mọi nhà, đặc biệt trong bữa cơm mùa hè. Cua đồng rửa sạch, bóc mai kều lấy gạch để riêng, giã thân ra, lọc lấy nước, tra mắm muối vừa ăn mang đun nhỏ lửa cho sôi đều thì bỏ với rau đay, rau mồng tơi, mướp vào (có nhà còn bỏ thêm lá lốt, giá bông) đun một lúc nữa cho sôi đều mới bỏ gạch vào sau cùng. Vào mùa hè, chan canh cua ăn kèm cà pháo muối rất ngon cơm.

429. Canh cua nấu bánh đa

Món ăn. Hàng năm cứ vào dịp hội Sáo Đền 25/3 âm lịch, dân làng Kiếu, làng Giáng Nghị, Kiều Thần và một số làng tại xã Song An (thuộc huyện Vũ Thư ngày nay), nhà nào cũng ăn canh cua đồng nấu bánh đa thay cơm, ăn tới 3 ngày liền kể từ khi mở hội. Lâu dần thành tục.  Hỏi ra mới biết, vào tháng ba đói kém, nhà nhà chỉ có bát canh cua làm đầu, trước là cúng cấp, sau cho trẻ ăn còn kịp đi xem thi thả diều hội Sáo Đền.

Cách làm tương tự như nấu riêu cua. Đợi nước lọc cua sôi thì bẻ bánh đa làng Kiếu thả vào nồi canh. Khi chín, bánh cuộn tròn lại như những chiếc tù và nhỏ ôm lấy thịt cua, trông lạ mắt và hấp dẫn. Tuỳ khẩu vị của mỗi người mà ăn chua, cay kèm với rau diếp, rau mùi thái nhỏ. Người dân Vũ Thư  vẫn còn nhớ câu: " Liếu tiếu làng Kiếu bánh đa".

430. Canh gion

Món ăn thông thường trong các bữa ăn mùa hè của mọi gia đình vùng biển Thái Bình. Gion chủ yếu để nấu canh. Gion có thể nấu với nhiều loại rau như rau mồng tơi lẫn bầu, rau đay, rau cải canh, rau muống đều dễ ăn, nhưng nấu với rau muống non rất hợp nên phổ biến hơn cả.

Gion tươi rửa sạch cát, đổ nước ngập săm sắp, đun đều lửa. Khi sôi bỏ vào một chút muối, dùng đũa khuấy mạnh để ruột gion bong ra cho dễ đãi. Gạn lấy nước, đãi gion lấy ruột. Bỏ ruột vào nước gion, tra mắm muối vừa miệng, đun sôi. Cho rau muống thái nhỏ vào, đun to lửa để rau chín xanh. Tiền Hải êm lá lốt, hành củ thái nhỏ vào sau cùng, đảo đều là đựơc.

Ăn canh gion với cơm, ăn nóng hay nguội đều ngon.

431. Canh Nông 耕 農

Tổng đầu tk. XIX thuộc h. Duyên Hà,  p. Tiên Hưng,  tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Hưng Yên, từ 1894 thuộc t. Thái Bình) có 8 xã, phường: Canh Nông, Phú Nông, Duyên Nông, Hoằng Nông, Đình Ngũ, Tiên La, Yên Việt, phường thủy cơ Duyên Nông. Trong Danh sách Đồng Khánh (1886-1887), x. Yên Việt đổi thành x. Việt Yên; không có phường thủy cơ Duyên Nông. Từ 3-1895, x. Phú Nông đổi thành x. Đôn Nông. Nay thuộc h. Hưng Hà.

432. Canh Nông 耕 農

Xã cũ đầu tk. XIX thuộc tg Canh Nông, h. Duyên Hà,  p. Tiên Hưng, tr. Sơn Nam Hạ (từ 1822 thuộc tr. Nam Định, từ 1831 thuộc t. Hưng Yên, từ 1894 thuộc t. Thái Bình). Nay là th. Canh Nông thuộc x. Điệp Nông h. Hưng Hà. Dân số 1.111 người (1927). Thần tích x. Canh Nông : 20 tr., gồm sự tích Sùng Công (Cao Sơn Đại Vương), Chàng út (Chàng út... Đại Vương), thời Hùng Duệ Vương, và sự tích Thiên Bồng Đại Tướng Quân thời Lý, do Nguyễn Bính soạn năm 1572. Bản khai thần tích-thần sắc (1938): 4 tr., thần Thiên Bồng. Tục lệ x. Canh Nông : 42 tr., gồm 46 lệ, lập ngày 13 tháng 8 năm Tự Đức 14 (1861). Hương ước x. Canh Nông (1936): 13 tr. viết tay.

Xt: Thiên Bồng Đại Vương (thần - 3799).

433. Canh Nông

Bến đò vượt sông Luộc, bên tả là x. Tống Trân, h. Phù Cừ, t. Hưng Yên, bên hữu là x. Điệp Nông, h. Hưng Hà. Trước, sử dụng đò gỗ, nay thay bằng thuyền sắt, gắn máy nổ.

434. Canh Tân

Xã thuộc h. Hưng Hà, nằm sát bờ sông Luộc, cách ttr. Hưng Hà 13 km về phía tây bắc. Thành lập sau 1945, gồm 3 thôn Lưu Xá, Đào Xá (sau đổi là Đào Thành), Quan Bế (l. Vế). Từ thập kỷ 60 đến năm 2002, tổ chức theo các đội sản xuất và xóm. Năm 2003, tổ chức lại thành 6 thôn: Đào Thành, Lưu Xá Bắc, Lưu Xá Nam, Lưu Xá Đông, Vế Đông, Vế Tây. Trước 1945, thuộc tg Quan Bế, h. Hưng Nhân, t. Thái Bình. Diện tích tự nhiên 375,8 ha; dân số 6082 người, gồm 1526 hộ.

Đất đai bằng phẳng, màu mỡ. Có sông Luộc chảy ở phía bắc, sông Đào Thành chảy ở phía đông. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp - nông thôn và đời sống nhân dân thuộc mức trung bình của huyện. Nhân dân có truyền thống canh coi, bảo vệ đê điều, phòng chống lũ bão.  Kinh tế chủ yếu cấy lúa, trồng cây màu, cây công nghiệp. L. Lưu Xá được ghi vào sử sách từ thời Lý, thời Trần; xưa gọi là th. Lưu Gia, nơi đây có đền thờ Nhị Lưu Thái phó - DTLS cấp quốc gia. Lưu Xá cũng là nơi gặp gỡ giữa Hoàng Thái tử Sảm với Trần Thị Dung để rồi đưa nhà Trần vào thay thế nhà Lý.

Xã hiện có 2 Tiến sĩ, 5 lão thành cách mạng, 4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 100 liệt sĩ, 35 thương binh, 860 người được tặng thưởng Huân, Huy chương các loại.

435. Canh vọp nấu với  lộc bứa

Đặc sản của các xã vùng biển Thái Thụy, Tiền Hải. Vọp sống ở biển. Vào tháng 9 âm lịch vọp béo. Vọp múi mít béo đặc, có gạch nấu canh rất ngon. Rửa sạch cát, dùng dao nhọn xẹp vọp làm

Tin mới ...
Tin cũ hơn ...

Đánh giá của bạn

Tên của bạn
Đánh giá
Mã bảo vệ

Hiện có 0 đánh giá

 

 

Tin được quan tâm

Back To Top